3.ベトナムは人権、平和、国家間の友情と協力、地域的および国際的な経済統合に関する国際条約を締結しているa

3. Việt Nam với các điều ước quốc tế về quyền con người, về hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia, về hội nhập kinh tê khu vực và quốc tê

a) Việt Nam với cẩc điêu ước quốc tế về quyền con người

Hơn 50 năm trước đây, vào ngày 10 — 12 — 1948, Liên hợp quốc ra Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, đánh dấu mốc son trong lịch sử quyền con người của cộng đồng nhân loại.

Quyền con người là quyền cơ bản của mỗi cá nhân đương nhiên có được ngay từ khi mới sinh ra cho đêh trọn đời mình mà mỗi nhà nước đều phải ghi nhận và bảo đảm. Đó là các quyền cơ bản đối với con người, như: quyền được sống, quyền tự do cơ bản, quyền bình đẳng, quyền lao động, quyền có cuộc sống ấm no và hạnh phúc, v.v…
Nhận thức sâu sắc ý nghĩa của quyền con người trong phạm vi toàn thế giới, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia tích cực vào việc kí kết và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người.

Ngày 20 – 2 – 1990, Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Kể từ đó, Nhà nước ta đã tiến hành hàng loạt hoạt động cụ thể để thực hiện Công ước : năm 1990 ban hành Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ; năm 1991 ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (thay đổi năm 2004) ; ngoài ra, còn có nhiều văn bản pháp luật mới, trong đó có các quy định liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em như Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Luật Quốc tịch…

Cùng với việc ban hành pháp luật, Nhà nước ta tổ chức bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bao gồm các cơ quan chuyên trách cùng hệ thống các cơ quan khác liên quan đến bảo vệ quyền trẻ em.

Như vậy, để thực hiện Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp để các điều khoản của Công ước thực sự đi vào thực tiễn đời sống xã hội trên đất nước ta, góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người trong cộng đồng quốc tế.

Ngoài Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em,’Nhà nước ta đã kí kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế quan trọng khác về quyền con người như : Công ước năm 1966 về các quyền dân sự và chính trị ; Công ước năm 1966 về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội ; Công ước năm 1965 về loại trừ các hình thức phân biệt chủng tộc ;…

3.ベトナムは人権、平和、国家間の友情と協力、地域的および国際的な経済統合に関する国際条約を締結している

a)ベトナムは人権に関する国際条約を締結している

50年以上前の1948年12月10日、国連は世界人権宣言を発表し、人権コミュニティの人権の歴史における画期的な出来事を示しました。

人権はすべての個人の基本的権利であり、生涯にわたって生まれてから自然に獲得され、すべての国家がそれを認識し、保証しなければなりません。
これらは基本的人権であり、例えば、生存権、基本的自由、平等、労働者の権利、繁栄し幸せな生活への権利などです。
世界規模での人権の意味を深く認識しているベトナム社会主義共和国は、人権に関する国際条約の調印と実施に積極的に参加してきました。

1990年2月20日、ベトナムは子どもの権利に関する国連条約を批准しました。
それ以来、私たちの国家は、条約を実施するための一連の特定の活動を実施してきました。
1990年に普遍的な初等教育に関する法律を公布しました。
1991年に、児童保護、ケア、教育に関する法律を公布しました(2004年に変更)。
さらに、労働法、刑法、国籍法などの子どもの権利の保護に関連する規定を含む、多くの新しい法的文書があります。

法律の公布に伴い、私たちの国家は、中央から地方まで、専門機関や子どもの権利の保護に関連する他の機関のシステムを含む国家の機構を組織しています。

このように、子どもの権利に関する国連条約を実施するために、我が国は、条約の規定が我が国の社会生活において実際に実施され、人権の保護に積極的に貢献するように多くの措置を講じてきました。

子どもの権利に関する国連条約に加えて、私たちの国は、1966年の公民権および政治的権利に関する条約など、人権に関する他の多くの重要な国際条約に署名または加盟しています。
1966年の経済的、文化的および社会的権利に関する条約。 1965年のあらゆる形態の人種差別の撤廃に関する条約など。

コメント