3. 1991年から2000年までの米国

3. NƯỚC MĨ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000

Trong suốt thập kỉ 90, tuy có trải qua những đợt suy thoái ngắn, nhưng kinh tế Mĩ vẫn đứng đầu thế giới.

Năm 2000, GDP của Mĩ là 9 765 tỉ USD, bình quân GDP đầu người là 34 600 USD. Nước Mĩ tạo ra 25% giá trị tổng sản phẩm của toàn thế giới và có vai trò chi phối trong hầu hết các tổ chức kinh tế – tài chính quốc tế như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) V.V..

Khoa học – kĩ thuật của Mĩ vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tính chung, Mĩ chiếm tới 1/3 số lượng bản quyền phát minh sáng chế của toàn thế giới.

Về chính trị và đối ngoại, trong thập kỉ 90, chính quyền B. Clinton theo đuổi ba mục tiêu cơ bản của chiến lược “Cam kết và mở rộng”. Đó là :
1. Bảo đảm an ninh của Mĩ với lực lượng quân sự mạnh, sẵn sàng chiến đấu ;
2. Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh của nền kinh tế Mĩ;
3. Sử dụng khẩu hiệu “Thúc đẩy dân chủ” để can thiệp vào công việc nội bọ của nước khác.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc (1989) và trật tự thế giới hai cực Ianta tan rã (1991), Mĩ càng tìm cách vươn lên chi phối, lãnh đạo toàn thế giới.

Với sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học – kĩ thuật vượt trội, trong bối cảnh Liên Xô tan rã, Mĩ muốn thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực”, trong đó Mĩ là siêu cường duy nhất, đóng vai trò lãnh đạo.
Tuy nhiên, thế giới không bao giờ chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt và chi phối. Vụ khủng bố ngày 11 – 9 – 2001 cho thây, nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong chính sách đối nội và đối ngoại của Mĩ khi bước vào thế kỉ XXI.
Mĩ bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11 – 7 – 1995.

Nêu mục tiêu cơ bản của chiến lược “Cam kết và mở rộng” dưới thời Tổng thống B. Clintơn.

CÂU HỞI VÀ BÀI TẬP

Qua bài học và sách, báo, hãy nêu những thárth tựu khoa học – công nghệ tiêu biểu của nước Mĩ mà em biết.

Nèu những nét chính trong chính sách đối ngoại của Mĩ tú’ năm 1945 đến năm 2000.

3. 1991年から2000年までの米国

 

1990年代、短期間の不況にもかかわらず、米国経済は依然として世界のトップにありました。

 

2000年の米国のGDPは9兆7,650億米ドル、1人当たりGDPは34,600米ドルでした。
米国は、世界の国内総生産の価値の25%を生み出し、世界貿易機関(WTO)、世界銀行(WB)、国際通貨基金(IMF)などほとんどの国際経済金融機関で支配的な役割を果たしています。

 

米国の科学技術は力強く発展し続けています。
まとめると、米国は世界の特許の3分の1を占めています。

政治と外交では、1990年代に、B。クリントン政権は「関与と拡大」戦略の3つの基本的な目標を追求しました。
それは :

1.強力な軍事力で米国の安全を確保し、戦う準備をする。

2.米国経済のダイナミズムと強さの回復と発展を強化する。

3.スローガン「民主主義の促進」を使用して、他国の内政に干渉する。

 

冷戦の終結(1989年)とヤルタ体制、世界秩序の崩壊(1991年)の後、米国は世界を支配し、主導するために立ち上がろうとしました。

米国は、ソビエト連邦の崩壊という状況において、その優れた経済的、軍事的、科学的、技術的強みをもって、米国が唯一の超大国であり、「単一」世界秩序のリーダーシップの役割です。

しかし、世界は、米国によって一方的に取り決められ、支配された命令を受け入れたことがありません。
2001年9月11日の同時多発テロは、米国も非常に脆弱であることを示しており、テロは21世紀に入るときに米国の内外の政策に重要な変化をもたらす要因の1つになるでしょう。

米国は1995年7月11日にベトナムとの外交関係を正常化した。

 

クリントン大統領の下での「関与と拡大」戦略の基本的な目的を述べる。

 

質問と演習

 

教科書や本、新聞を通して、あなたが知っている米国の典型的な科学技術の成果に言及してください。

 

1945年から2000年までのアメリカの外交政策の主な特徴を概説します。

コメント