2.Quá trình xây dựng và phát triển của các nưóc Đông Nam Á
Các nước Đông Nam Á sau khi giành độc lập đã bước vào thời kì phát triển kinh tế với những chiến lược phát triển khác nhau.
a) Nhóm năm nước sáng lập ASEAN
Thời kì đậu sau khi giành được độc lập, nhóm năm nước sáng lập ASEAN (Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Xingapo, Thái Lan) đều tiến hành công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (chiến lược kinh tế hướng nội) với mục tiêu nhanh chóng xoá bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. Nội dung chủ yếu là đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu, lấy thị trường trong nước làm chỗ dựa để phát triển sản xuất Vân Vân.
Thực hiện chiến lược kinh tế hướng nội, các nước này đã đạt được một số thành tựu bước đầu về kinh tế – xã hội.
Sản xuất đã đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhân dân trong nước, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, phát triển một số ngành chế biến, chế tạo. Kế hoạch phát triển kinh tế 6 năm của Thái Lan (1961 – 1966) đã tăng thu nhập quốc dân 7,6%, dự trữ ngoại tệ và vàng tăng 15%. Với Malaixia, sau kế hoạch 5 năm (1966 – 1970), miền Tây đã tự túc được lương thực, miền Đông giảm nhập khẩu gạo v.v.
Tuy nhiên, chiến lược kinh tế này cũng bộc lộ những hạn chế.
Thiếu nguồn vốn, nguyên liệu và công nghệ, chi phí cao dẫn tới tình trạng thua lỗ, tệ tham nhũng, quan liêu phát triển, đời sống người lao động còn khó khăn, chưa giải quyết được quan hệ giữa tăng trưởng với công bằng xã hội.
Sự hạn chế đó đã buộc chính phủ các nước, từ những năm 60-70 trở đi chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá lấy xuất khẩu làm chủ đạo (chiến lược kinh tế hướng ngoại). Các nước này đều tiến hành “mở cửa” nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật của nước ngoài, tập trung sản xuất hàng hoá để xuất khẩu, phát triển ngoại thương.
Sau khi thực hiện chiến lược kinh tế hướng ngoại, bộ mặt kinh tế – xã hội của các nước này có sự biến đổi to lớn. Tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tếquốc dân cao hơn nông nghiệp, mậu dịch đối ngoại tăng trưởng nhanh.
Năm 1980, tổng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nước này đạt tới 130 tỉ USD, chiếm 14% tổng kim ngạch ngoại thương của các quốc gia và khu vực đang phát triển, vấn đề tăng trưởng và công bằng xã hội đã được chú trọng giải quyết.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm nước này khá cao : Trong những năm 70 của thê’ kỉ XX, tốc độ tãng trưởng của Inđônêxia là 7% – 7,5%, của Malaixia là 7,8%, của Philíppin là 6,3%, còn Thái Lan là 9% (1985 – 1995), Xingapo chuyển mình mạnh nhất với tốc độ tăng trưỏng 12% (1966 – 1973) và trở thành “con rồng” nổi trội nhất trong bốn “con rồng” kinh tế của châu Á.
Năm 1997 – 1998, các nước ASEAN trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng. Nền kinh tế bị suy thoái, tình hình chính trị một số nước không ổn định. Sau vài năm khắc phục, kinh tế dần dần được phục hồi, các nước ASEAN lại tiếp tục phát triển.
2.東南アジア諸国の建設と開発のプロセス
独立後、東南アジア諸国はさまざまな開発戦略で経済発展の時代に入りました。
a)5つの国のASEAN創設
国のグループ
独立後の期間、ASEANの5つの創設国(インドネシア、マレーシア、フィリピン、シンガポール、タイ)のグループは一様に迅速に貧困を解消します。後進性で自律的な経済を構築します。
主な内容は、国内市場を生産の発展の支援として、輸入に代わる国内消費財を生産する産業の発展を促進することなどです。
内需の経済戦略を実施することで、これらの国々はいくつかの初期の社会経済的成果を達成しました。
生産は国内の人々の基本的なニーズを満たし、失業の解決に貢献し、多くの加工、製造業を発展させてきました。
タイの6カ年経済開発計画(1961年-1966年)は、国民所得を7.6%、外貨と金準備を15%増加させました。
マレーシアでは、5カ年計画(1966年-1970年)の後、西側は食料を自給自足し、東側はコメの輸入を減らしたりしました。
ただし、この経済戦略には限界もあります。
資本、原材料、技術の不足損失での高コスト、汚職官僚主義の発展、労働者の生活は依然として困難であり、成長と社会公平の関係は解決されていません。
その制限により、60年代から70年代以降、各国政府は輸出主導型の工業化戦略(対外経済戦略)に切り替えることを余儀なくされました。
これらの国々はすべて、経済の「開放」を行い、外国投資と技術を引き付け、輸出用の商品の生産に焦点を合わせ、外国貿易を発展させました。
外向きの経済戦略を実施した後、これらの国々の社会経済的側面は大きな変化を遂げました。
国民経済における産業のシェアは農業よりも高く、対外貿易は急速に成長しています。
1980年に、このグループの国の総輸出売上高は1,300億米ドルに達し、発展途上国および地域の総外国貿易売上高の14%を占めています。
これら5カ国の経済成長率は非常に高いです。
20世紀の1970年代には、インドネシアの成長率は7%〜7.5%、マレーシアの成長率は7.8%、フィリピンの成長率は6.3%であった。
タイは9%(1985-1995)でしたが、シンガポールは12%(1966-1973)の成長率で最も変化し、アジアの経済経済における4つの「登り龍」の中で最も優れた「登り龍」になりました。
1997年から1998年にかけて、ASEAN諸国は深刻な金融危機を経験しました。
経済は不況にあり、一部の国の政治情勢は不安定です。
数年の克服の後、経済は徐々に回復し、ASEAN諸国は発展を続けました。

コメント