2.中国の不安定な年代(1959-1978)

 

2. Trung Quôc những năm không ổn định (1959 – 1978)

Về đối nội, từ năm 1959 đến năm 1978, Trung Quốc lâm vào tình trạng không ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Với việc đề ra và thực hiện đường lối “Ba ngọn cờ hồng” năm 1958 (“Đường lối chung”, “Đại nhảy vọt”, “Công xã nhân dân”), các nhà lãnh đạo Trung Quốc hi vọng nhanh chóng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Cuộc “Đại nhảy vọt” được thực hiện bằng việc phát động toàn dân làm gang thép với mục tiêu đưa nhanh sản lượng thép lên gấp 10 lần chỉ tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai .(1958 – 1962). Sau 4 tháng, đã có 11 triệu tấn thép ra lò, nhưng hầu hết chỉ là phế liệu.

Các hợp tác xã được sáp nhập lại thành các “Công xã nhân dân” tổ chức theo lối quân sự hoá, mọi sinh hoạt kinh tế – xã hội đều được bao cấp, làm cho sản xuất nông nghiệp giảm sút, nhiều nơi bị mất mùa.

Hậu quả là từ năm 1959, nạn đói đã diễn ra trầm trọng trong cả nước, đời sống nhân dân khó khăn, sản xuất ngưng trệ, đất nước không ổn định.

Những khó khăn về kinh tế đã dẫn tới biến động về chính trị.
Năm 1959, Lưu Thiếu Kỳ được cử làm Chủ tịch nước, Mao Trạch Đông chỉ giữ cương vị Chủ tịch Đảng Cộng sản.
Trong nội bộ ban lãnh đạo Trung Quốc xảy ra sự bất đồng gay gắt về đường lối, dẫn tới cuộc tranh giành quyền lực, đỉnh cao là cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản” (1966 – 1976).

Bằng việc sử dụng lực lượng Hổng vệ binh đập phá các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ sở văn hoá ; lôi ra đấu tố, truy bức, nhục hình nhiều nhà cách mạng

lão thành và nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ, cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản” đã để lại những hậu quả hết sức nghiêm trọng về mọi mặt đối với nhân dân Trung Quốc.

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời (9 – 1976), trên toàn đất nước bắt đầu chiến dịch chống lại “Bè lũ bốn tên” Trung Quốc dần dần đi vào ổn định.

Bốn uỷ viên Bộ Chính trị : Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Diêu Văn Nguyên và Trương Xuân Kiều, là những người cầm đầu cuộc “Đại cách mạng văn hoá vô sản”.

Về đối ngoại, Trung Quốc ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mĩ xâm lược của nhân dân Việt Nam cũng như cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước Á, Phi và Mĩ Latinh. Cũng trong thời kì này, đã xảy ra cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc với Ấn Độ (1962), giữa Trung Quốc với Liên Xô (1969).
Tháng 2 – 1972, Tổng thống Mĩ R. Níchxơn sang thăm Trung Quốc, mở đầu quan hệ mới theo hướng hoà dịu giữa hai nước.

2.中国の不安定な年代(1959-1978)

 

国内では、1959年から1978年まで、中国は経済的、政治的、社会的に不安定な状態にありました。
1958年の「三面紅旗」ライン(「社会主義建設の総路線」、「大躍進」、「人民公社」)の策定と実施により、中国の指導者たちは成功した社会主義を迅速に構築することを望んでいます。

「大躍進」は、第2次5カ年計画(1958年から1962年)で設定された目標の10倍まで鉄鋼生産を急速に増加させることを目標に、全人口を動員して鉄鋼を製造することによって実施されました。
4か月後、1,100万トンの鉄鋼が生産されましたが、そのほとんどはスクラップでした。

 

協同組合は軍事化された「人民共同体」に統合され、すべての社会経済活動が助成され、農業生産が減少し、多くの場所が季節を失われました。

その結果、1959年以降、全国で飢饉が深刻化し、人々の生活が困難になり、生産が停止し、国が不安定になります。

経済的困難は政治的混乱を引き起こしました。

1959年、劉少奇が大統領に任命され、毛沢東は共産党の議長を務めただけでした。

中国の指導部内で激しい意見の不一致があり、権力闘争につながり、「大プロレタリア文化大革命」(1966年から1976年)で最高潮に達しました。

香港警備隊の力を利用して、党、政府、文化機関を破壊することです。
多くの

科学者、作家、芸術家、革命家へ起訴、迫害、屈辱をもたらした「大プロレタリア文化大革命」は、中国の人々にあらゆる面で非常に深刻な結果をもたらしました。

 

毛沢東の死後(1976年9月)、全国は中国の「四人組」に反対するキャンペーンを開始し、徐々に安定した。

 

政治局の4人のメンバー:江青、王洪文、姚文元、張春橋は、「偉大なプロレタリア文化大革命」のリーダーでした。

外交において、中国は、ベトナムの人々のアメリカの侵略に対する闘争と、アジア、アフリカ、ラテンアメリカにおける国民の解放のための闘争を支持しています。
また、この時期、中国とインド(1962年)、中国とソビエト連邦(1969年)の間で国境紛争が発生した。

1972年2月、ニクソン米大統領が中国を訪問し、両国間の平和の方向に新たな関係を築きました。

コメント