2.米国 a)経済状況

  1. NƯỠC Mĩ

a) Tình hình kinh tế

Cuối thế kỉ XIX, trong số các nước công nghiệp tiên tiến, Mĩ là nước có nền kinh tế phát triển hơn cả.
Trong 30 năm (1865 – 1894), Mĩ từ hàng thứ tư vươn lên hàng đầu thế giới về sản xuất công nghiệp – bằng 1/2 tổng sản lượng các nước Tây Âu và gấp 2 lần nước Anh.
Sản xuất gang, thép, máy móc. chiếm vị trí hàng đầu thế giới.
Năm 1913, sản lượng gang, thép của Mĩ vượt Đức 2 lần, vượt Anh 4 lần ;
than gấp 2 lần Anh và Pháp gộp lại.
Độ dài đường sắt của Mĩ vượt tổng chiều dài đường sắt Tây Âu.
Nông nghiệp cũng đạt được những thành tựu đáng kể.
Nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi (đất đai rộng và màu mỡ) kết hợp với phương thức canh tác hiện đại (chuyên canh, sử dụng máy móc và phân bón), Mĩ đã trở thành vựa lúa và nơi cung cấp thực phẩm cho châu Âu.
Trong khoảng 1860 – 1900, sản lượng lúa mì tăng 4 lần, ngô – 3,5 lần, lúa mạch – 5,5 lần ;
giá trị nông sản xuất khẩu tăng gần 4 lần.
Cuối thế kỉ XIX, Mĩ bán 9/10 bông, 1/4 lúa mạch trên thị trường thế giới.
Mĩ cũng là nước cung cấp nhiều thịt, bơ và lúa mì nhất.
Như vậy, ngoài những thuận lợi về nông nghiệp, nước Mĩ còn có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú (đặc biệt là mỏ vàng, mỏ dầu lửa); có nguồn lao động dồi dào, tay nghề cao luôn được bổ sung bởi luồng người nhập cư,
tiếp thu được nhiều thành tựu khoa học – kĩ thuật mới.
Sự cạnh tranh gay gắt trong sản xuất công nghiệp và những cuộc khủng hoảng kinh tế chu kì ở giai đoạn này đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tập trung sản xuất và tư bản của Mĩ.
Các nhà tự bản lớn liên minh với nhau thành những tơrớt.
Họ trở thành những “vua công nghiệp”, đồng thời cũng là chủ những ngân hàng kếch xù.
Có thế lực nhất là hai tập đoàn tư bản Moóc-gân và Rốc-phe-lơ.
“Công ti thép Mĩ’ của Moóc-gân thành lập năm 1903 kiểm soát 60% ngành công nghiệp thép, 60% việc khai thác quặng đồng, 66% việc sản xuất thép tấm và 50% thép thành phẩm.
Tơrớt dầu lửa “Stan-đa” của Rốc-phe-lơ kiểm soát 90% ngành sản xuất dầu với 7 vạn km ống dẫn dầu, hàng trăm tàu đi biển và kho hàng ở trong và ngoài nước.
Hai tập đoàn trên còn lũng đoạn ngành ngân hàng ở Mĩ, nắm trong tay 1/3 toàn bộ của cải nước Mĩ.
Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, Mĩ đã vươn lên thành nước phát triển về ngoại thương và xuất khẩu tư bản.
Thị trường đầu tư và buôn bán của Mĩ là Ca-na-đa, các nước ở vùng biển Ca-ri-bê, Trung Mĩ và một số nước châu Á.
Vì sao kinh tế Mi cuối thê’kỉ XIX – đầu thê’kỉ XX phát triển vượt bậc ?

Hình thức độc quyền cao và phổ biến ở Mĩ.
Tơrớt là một tổ chức độc quyền tập hợp tài sản của các xí nghiệp, mỗi thành viên được hưởng lãi tuỳ theo số vốn bỏ ra.
Lãnh đạo là một ban quản trị chung, quản lí toàn bộ các khâu sản xuất, tiêu thụ, tài chính,của các xí nghiệp ở trong tổ chức.

2.米国

a)経済状況

19世紀の終わりには、先進工業国の中で、米国が最も発展した経済を持っていました。

30年間(1865年から1894年)に、米国は4位から工業生産の世界的リーダーに上昇しました。
これは、西ヨーロッパ諸国の総生産量の半分、英国の2倍に相当します。

鋳鉄、鉄鋼、機械の製造で世界をリードする地位を占めています。

1913年、米国の鉄鋼生産はドイツの2倍、英国の4倍を超えました。

石炭はイギリスとフランスを合わせたものの2倍です。

米国の鉄道の長さは、西ヨーロッパの鉄道の全長を超えています。

農業も目覚ましい成果を上げています。
良好な自然条件(広大で肥沃な土地)と近代的な農法(機械と肥料を使用した特殊な農業)のおかげで、米国は穀倉地帯になり、ヨーロッパに食糧を提供する場所になりました。

1860年から1900年の間に、小麦の生産量は4倍、トウモロコシは3.5倍、大麦は5.5倍に増加しました。

農産物の輸出額は4倍近く増加しました。

19世紀の終わりに、米国は世界市場で綿90%と大麦の4分の1を販売しました。

米国はまた、肉、バター、小麦の最大の供給国です。

したがって、農業の利点に加えて、米国には豊富な鉱物資源(特に金鉱、油田)もあります。
移民の流入によって常に補われる豊富で高度に熟練した労働力を持っています、
多くの新しい科学的および技術的成果を受け取りました。

工業生産における激しい競争とこの時期の周期的な経済危機は、アメリカの生産と資本の集中を強く促進しました。

偉大な資本家たちは彼ら自身をトラスト同盟させました。

彼らは「産業の王」となり、巨大銀行の所有者にもなりました。

最も強力なのは、2つの資本家グループ、モルガンとロックフェラーです。

1903年に設立されたモルガンの「American Steel Company」は、鉄鋼業界の60%、鉄鉱石採掘の60%、鋼板生産の66%、完成品鋼の50%を管理しています。

ロックフェラーのスタンダードオイルは、70,000 kmのパイプライン、数百の航海船、および国内外の倉庫で石油産業の90%を管理しています。

これら2つの企業は、米国の銀行業界も支配しており、米国の全資産の3分の1を保有しています。

第一次世界大戦前、米国は対外貿易と資本輸出の先進国になりました。

米国の投資と貿易の市場は、カナダ、カリブ海の国々、中央アメリカ、およびいくつかのアジア諸国です。

19世紀末から20世紀初頭にかけてのアメリカの経済はなぜ急速に発展したのか。

トラストは非常に高度な独占形態でアメリカで人気。

企業の資産を収集する独占的な組織であり、各メンバーは投資された資本に応じて利息を得る権利がある。

リーダーは、組織内の企業の生産、消費、財務のすべての段階を管理する一般的な組織です。

コメント