b)政治情勢

b) Tình hình chính trị

Hiến pháp 1871 quy định nước Đức là một Liên bang gồm 22 bang và 3 thành phố tự do, theo chế độ quân chủ lập hiến.
Trong nhà nước liên bang, Hoàng đế là người đứng đầu, có quyền hạn tối cao (tổng chỉ huy quân đội, bổ nhiệm và cách chức thủ tướng, triệu tập và giải tán Quốc hội…).
Quyền lập pháp trong tay hai viện :
Hội đồng Liên bang (Thượng viện) gồm đại biểu các bang và Quốc hội (Hạ viện) do bầu cử, nhiệm kì 3 năm.
Các bang vẫn giữ hình thức vương quốc (có vua, chính phủ và quốc hội riêng), nhưng quyền hạn bị thu hẹp.
Phổ là bang lớn nhất và mạnh nhất trong Liên bang Đức (chiếm 61% dân số và 64% lãnh thổ).
Vai trò của Phổ trong liên bang rất lớn :
Hoàng đế Đức là vua Phổ, Thủ tướng Đức thường là Thủ tướng Phổ, Chủ tịch Hội đồng Liên bang là Thủ tướng của Liên bang và trong 58 ghế của Hội đổng, Phổ chiếm 17 ghế.

Nhà nước liên bang được xây dụng trên cơ sở liên minh giữa giai cấp tư sản và quý tộc tư sản hoá, đứng đầu là Hoàng đế Vin-hem I và Thủ tướng Bi-xmác.
Đây là lực lượng đã lãnh đạo công cuộc thông nhất đất nước bằng con đường vũ lực, có thế lực về chính trị và tiềm lực mạnh về kinh tế.
Khi nước Đức chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tầng lớp quý tộc tư sản hoá vẫn giữ vai trò quan trọng.
Mặc dù có Hiến pháp, có Quốc hội, nhưng chế độ chính trị ở Đức thời kì này không phải là chế độ đại nghị tư sản mà thực chất là chế độ nửa chuyên chế, áp dụng sự thống trị của Phổ trên toàn nước Đức.
Nước Đức tiến lên giai đoạn đế quốc chủ nghĩa khi phần lớn đất đai trên thế giới đã trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của Anh, Pháp.
Do vậy, đường lối đối ngoại của Đức vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX là công khai đòi chia lại thị trường và thuộc địa, ráo riết chạy đua vũ trang để thoả mãn nhu cầu của giới cầm quyền.
Mâu thuẫn giữa Đức với Anh, Pháp càng thêm sâu sắc.
Tính chất quân phiệt hiếu chiến là đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa đế quốc Đức.

Trình bầy những nét lớn về tình hỉnh chính trị ở Đức thời kì này.

b)政治情勢

1871年の憲法は、ドイツが立憲君主制の下で22の州と3つの自由都市の連合であると規定しています。

連邦国家では、皇帝が首長であり、高い権力を持っています(陸軍最高司令官、首相の任命と解任、国会の召喚と解散など)。

2院ある立法権:

連邦院(上院)は州の代表者で構成され、国会(衆議院)は3年の任期で選出されます。

州は(独自の王、政府、議会とともに)王国の形態を維持しましたが、その権限は限られていました。

プロイセンはドイツ連邦で最大かつ最も強力な州です(人口の61%、領土の64%)。

連邦におけるプロイセンの役割は非常に大きいです。

ドイツ皇帝はプロイセンの王であり、ドイツの首相は通常プロイセンの首相であり、議長もプロイセン議長です。
評議会の58議席のうちプロイセンは17議席を占めています。

連邦国家は、ブルジョアジとブ貴族の間の同盟に基づいて構築され、ヴェルヘルム1世皇帝とビスマルク首相が率いました。

これは、力で国の統一を導いた力であり、政治力と強力な経済的可能性を持っています。

ドイツが帝国主義に転向したとき、ブルジョア貴族は依然として重要な役割を果たしました。

憲法と国会がありましたが、当時のドイツの政治体制はブルジョア議会制ではなく、実際にはドイツ全土にプロイセンの支配を適用した半独裁政権でした。

ドイツは、世界のほとんどの土地がイギリスとフランスによって植民地化または半植民地化されたときに帝国主義の段階に進みました。

したがって、19世紀末から20世紀初頭にかけてのドイツの外交政策は、市場と植民地の分割を公然と要求し、支配階級のニーズを満たすために積極的に武力で競争することでした。

ドイツとイギリスとフランスの間の紛争は深まります。

好戦的な軍国主義はドイツ帝国主義の特徴でした。

-この時期のドイツの政治情勢の主な特徴を考えましょう。

コメント