34.資本主義が帝国主義時代に移行

34.CÁC NỰỚC TƯ BẢN CHUYỂN SANG GIAI ĐOẠN ĐẾ QUỐC CHỦ NGHĨA

Cuối, thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, các nước tư bản Âu – Mĩ có những chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế xã hội, bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn này là sự ra đời của các tổ chức độc quyền và sự bóc lột ngày càng tinh vi đối với nhân dân lao động, làm cho mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản ngày càng sâu sắc. Đây cũng là giai đoạn các nước đế quốc đẩy mạnh chính sách xâm lược, chuẩn bị chiến tranh để chia lại thế giới, tăng cường đàn áp phọng trào công nhân trong nước và những cuộc nổi dậy của nhân dân các thuộc địa.

  1. Những thành tựu vể khoa học – kĩ thuật cuối thế kỉ XIX –
    đầu thế kỉ XX

Vào khoảng 30 nãm cuối thế kỉ XIX, lực lượng sản xuất ở các nước tư bản đạt đến trình độ phát triển cao. Nhờ những phát minh khoa học trong các lĩnh vực Vật lí, Hoá học, Sinh học…, con người đã đi sâu khám phá được nguồn năng lượng vô tận của thiên nhiên, phục vụ cho nhu cầu cuộc sống ngày càng cao của mình.

Pi-e Quy-ri và Ma-ri Quy-ri trong phòng thí nghiệm

Trong lĩnh vực Vật lí, những phát minh về điện của các nhà bác học như Ghê-oóc Xi-môn Ôm (1789 – 1854) người Đức, Mai-Cơn Pha-ra-đây (1791 – 1867) và Giêmx Pre-xcốt Giun (1818-1889) người Anh, E-mi-li Khri-xchia-nô-vích Len-xơ (1804 – 1865) người Nga đã mở ra khả năng ứng dụng một nguồn năng lượng mới.
Thuyết electron của Tôm-xơn (Anh) cho thấy nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất của vật chất mà trước đó người ta vẫn lầm tưởng.
Những phát hiện về hiện tượng phóng xạ của các nhà bác học người Pháp Hãng-ri Béc-cơ-ren (1852 – 1908), Pi-e Quy-ri và Ma-ri Quy-ri đã đặt nền tảng cho việc tìm kiếm nguồn năng lượng hạt nhân ; công trình nghiên cứu của nhà vật lí học người Anh Ec-nét Rơ-dơ-pho (1871 – 1937) là một bước tiến vĩ đại trong việc tìm hiểu cấu trúc vật chất và trở thành chiếc chìa khoá thần kì để tìm hiểu thế giới bên trong của nguyên tử.
Phát minh của nhà bác học người Đức Vin-hem Rơn-ghen (1845 – 1923) về tia X vào năm 1895 đã giúp y học chẩn đoán chính xác bệnh tật, biết hướng điều trị nhằm phục hồi sức khoẻ cho con người.
Trong lĩnh vực Hoá học, định luật tuần hoàn của nhà bác học Nga Men-đê-lê-ép đã đặt cơ sở cho sự phân hạng các nguyên tố hoá học.
Lĩnh vực Sinh học cũng có nhiều tiến bộ lớn. Học thuyết Tiến hoá của Đác-uyn (Anh) đã giải thích nguồn gốc chung của sinh giới và sự tiến hoá bằng con đường chọn lọc tự nhiên ; phát minh của nhà bác học người Pháp Lu-i Pa-xtơ (1822 – 1895) giúp chế tạo thành công vắcxin chống bệnh chó dại ; công trình của nhà sinh lí học người Nga Páp-lốp (1849 – 1936) với thí nghiệm về những phản xạ có điều kiện đã nghiên cứu về hoạt động của hệ thần kinh cấp cao của động vật và con người v.v.
Những sáng kiến về kĩ thuật trong thời kì này đã mở ra khả năng rộng lớn trong việc thúc đẩy sản xuất. Nhờ ứng dụng những thành tựu mới, sản lượng công nghiệp tăng lên nhanh chóng.
Kí thuật luyện kim được cải tiến với việc sử dụng lò Bét-xme và lò Mác-tanh đã đẩy nhanh quá trình sản xuất thép.
Nhờ đó, thép được sử dụng phổ biến trong sản xuất như chế tạo máy, làm đường ray, đóng tàu và xây dựng.
Ngành luyện kim phát triển đã thúc đẩy việc khai thác than. Việc sử dụng rộng rãi năng lượng điện đòi hỏi những động cơ hoàn chỉnh hơn để giúp các nhà máy phát điện hoạt động. Do vậy, từ cuối thế kỉ XIX, ngoài máy hơi nước, đã có những tuốc bin chạy bằng sức nước, những tuốc bin liên hợp với đinamô thành máy tuốc bin phát điện, cung cấp nguồn điện năng mạnh mẽ và rẻ tiền.
Dẩu hoả được khai thác để thắp sáng và cung cấp nguồn nhiên liệu mới cho giao thông vận tải.
Công nghiệp hoá học ra đời phục vụ ngành nhuộm, phân bón và thuốc nổ.
Việc phát minh ra máy điện tín (giữa thế kỉ XIX) giúp cho liên lạc ngày càng xa và nhanh.
Cuối thế kỉ XIX, xe ô tô được đưa vào sử dụng nhờ phát minh ra động cơ đốt trong.
Tháng 12 -1903, với chuyến bay thử của hai anh em người Mĩ (trên chuyến bay do họ chế tạo nhờ sức mạnh của một động cơ chạy hằng xăng), ngành hàng không đã ra đời.
Nông nghiệp cũng có bước tiến đáng kể nhờ sử dụng nhiều máy móc : máy kéo, máy gặt, máy đập.
Phương pháp canh tác được cải tiến, chế độ luân canh thay thế dần chế độ hưu canh thời phong kiến. Việc sử dụng phân bón hoá học càng nâng cao năng suất cây trồng.

Xe có động cơ đầu tiên ở Đức(1886)
Hình 70 – Chiếc máy bay đầu tiên (1903)

  • Trình bày những phát minh lớn về khoa học – ki thuật cuối
    thê’kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.
    Những tiến bộ về khoa học – kĩ thuật cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã làm thay đổi cơ bản nền sản xuất và cơ cấu kinh tế tư bản chủ nghĩa, đánh dấu bước tiến mới của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn này.

34.資本主義が帝国主義時代に移行

19世紀の終わりから20世紀の初めにかけて、欧米の資本主義国は社会経済生活に大きな変化をもたらし、帝国主義の時代に入りました。
この時代の基本的な特徴は、独占的組織の出現と労働者のますます洗練された搾取であり、資本主義社会における階級闘争を深めた。
これはまた、帝国諸国が侵略政策を強化し、世界を再分配するための戦争に備え、家事労働者の抑圧と植民地民の蜂起を強めた時期でもありました。

1.科学の成果

-19世紀末の技術-
20世紀初頭

19世紀の最後の30年間で、資本主義国の生産力は高度に達しました。
物理学、化学、生物学などの分野での科学的発明のおかげで、人々は自然の無限のエネルギー源を深く発見し、増大する生命のニーズに応えています。

研究室でのピエール・キュリーとマリ・キュリー

物理学の分野では、ドイツのゲオルク・オーム(1789〜1854)、イギリスのマイケル・ファラデー(1791〜1867)、ジェームズ・プレスコット・ジュール(1818〜1889)、ロシアのハインリヒ・レンツ(1804-1865)などの科学者の電気的発明。
新しいエネルギー源を適用する可能性を開きました。

ジョゼフ・ジョン・トムソン(英国)の電子理論は、それまで誤解されていた原子が物質の最小要素ではないことを示しています。

フランスの科学者アンリ・ベクレル(1852年-1908年)、ピエールキュリーおよびマリキュリーによる放射能の発見は、調査するの基礎を築きました。
イギリスの物理学者アーネスト・ラザフォード(1871-1937)の研究は、原子内部構造を理解する上で大きな前進であり、それを理解するための奇跡的な鍵となりました。
1895年のX線に関するドイツの科学者ヴィルヘルム・レントゲン(1845-1923)の発明は、医学が病気を正確に診断し、人間の健康を回復するための治療の方向性を知るのに役立ちました。

化学の分野では、ロシアの科学者の循環法の法則が化学元素の分類の基礎を築きました。

生物学の分野も大きな進歩を遂げました。 ダーウィンの進化論(UK)は、世界の共通の起源と自然淘汰による進化を説明しています。
フランスの科学者ルイ・パスツール(1822年-1895年)の発明は、狂犬病に対するワクチンの製造に成功しました。
ロシアの生理学者イワン・パブロフ(1849-1936)動物と人間の高レベル神経系の条件による活動の研究。

この時期の技術革新は、生産を促進するための大きな可能性を切り開いた。
新しい成果の適用のおかげで、産業生産は急速に増加しました。

ヘンリー・ベッセマーの炉とロバート・フォレスター・マシェットの炉を使用した改良された冶金技術は、鉄鋼生産を加速させました。

その結果、鉄鋼は機械製造、鉄道製造、造船、建設などの製造に広く使用されています。

発展した冶金産業は石炭の開発に拍車をかけました。
電気エネルギーの普及には、発電所の稼働を維持するためにより完全なモーターが必要です。
そのため、19世紀後半以降、蒸気機関に加えて、水力タービンがあり、タービンはディーゼルエンジンと組み合わされて発電機タービンになり、強力で安価な電力を供給していました。

灯油は、脚光を浴び、輸送用の新しい燃料源を提供するために利用されます。

化学産業は、染色、肥料、爆発物産業のために生まれました。

電信の発明(19世紀半ば)は、コミュニケーションをますます速くしました。

19世紀の終わりに、内燃機関の発明のおかげで自動車が使用されるようになりました。

1903年12月、2人のアメリカ人兄弟のテスト飛行(ガソリンエンジンの力のおかげで彼らが作った飛行で)で、航空産業が生まれました。

トラクター、刈り取り機、脱穀機など、多くの機械を使用することで、農業も大きく進歩しました。

農法が改善された栽培体制が封建制に徐々に取って代わった。化学肥料の使用は作物の収穫量を向上させます。

最初の自動車。ドイツ(1886)
最初の飛行機(1903)

科学における優れた発明。

19世紀末から20世紀初頭にかけての科学技術の進歩は、資本主義の経済構造と生産を根本的に変え、この時代の資本主義の新たな一歩を示しました。

コメント