3.Trung Quốc thời Minh, Thanh
Đầu thế kỉ XIII, trên thảo nguyên Mông cổ hình thành nhà nước phong kiến chuyên chế quân sự do Gien-gít Khan (Thành Cát Tư Hãn) làm vua.
Năm 1271, vua Mông cổ là Khu-bi-lai (Hốt Tất Liệt) lên ngôi Hoàng đế, thiết lập triều Nguyên ở Trung Quốc (1271 – 1368).
Dưới sự thống trị của nhà Nguyên, nhân dân Trung Quốc liên tiếp đứng lên đấu tranh.
Năm 1368, khởi nghĩa nông dân lật đổ được nhà Nguyên.
Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế ở Nam Kinh, lập ra nhà Minh (1368 – 1644).
Các vua triều Minh đã thi hành nhiều biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế.
Đến đầu thế kỉ XVI, mầm mống quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ở Trung Quốc.
Một số nghề đã có những xưởng thủ công tương đổi lớn.
Ở Giang Tây có những trung tâm làm đồ gốm lớn như cảnh Đức có tới 3000 lò sứ.
Có những chủ xưởng dệt nắm trong tay hàng vạn lạng bạc tiền vốn, hàng chục khung cửi và hàng chục thợ.
Những người thợ này làm thuê để lấy tiền công. Bấy giờ, các nhà buôn lớn cũng xuất hiện.
Họ có nhiều vốn và nguyên liệu, đem giao cho các hộ thủ công làm để thu thành phẩm.
Các thương nhân bảo mua, đem hàng đi trao đổi khắp trong và ngoài nước.
Hoat động của họ thâm nhập vào cả lĩnh vực nông nghiệp như mùa xuân họ xuất vốn cho nông dân trồng mía, mùa đông thu lại bằng đường.
Các thành thị ở thời Minh mọc lên nhiều và rất phồn thịnh.
Bắc Kinh, Nam Kinh không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm kinh tế lớn.
Minh Thái Tổ rất quan tâm đến việc xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế tập quyền nhằm chấm dứt tình trạng hỗn chiến và mưu phản.
Năm 1380, ông quyết định bỏ các chức Thừa tướng, Thái uý và thay vào đó là các Thượng thư phụ trách các bộ.
Nhà Minh đã lập ra 6 bộ (Lại. Hộ, Lễ. Binh, Hình, Công), hoàn chỉnh bộ máy quan lại.
Các quan ở tỉnh chịu sự chỉ đạo của các bộ ở triều đình. Hoàng đế tập trung mọi quyền hành trong tay, trực tiếp nắm quân đội.
Hoàng đế còn tăng cường phong tước và ban cấp đất đai cho con cháu trong hoàng tộc, công thần thân tín để làm chỗ dựa cho triều đình.
Cuối thời Minh, việc bao chiếm và tập trung ruộng đất vào tay giai cấp quý tộc, địa chủ diễn ra nghiêm trọng.
Các vương công có nhiều “hoàng trang”, ruộng đất mênh mông. Địa chủ ở địa phương có tới hàng nghìn mẫu ruộng.
Ngược lại, nông dân đói nghèo vì ít ruộng, sưu dịch và tô thuế nặng nề.
Nhiều người phải cầm ruộng, bán vợ đợ con, hoặc bỏ quê hương đi tha phương cầu thực.
Khởi nghĩa nông dân lại nổ ra.
Cuộc nổi dậy của Lý Tự Thành làm cho triều Minh sụp đổ.
Giữa lúc đó, một bộ tộc ở Đông Bắc Trung Quốc là Mãn Thanh đã đánh bại Lý Tự Thành, lập ra nhà Thanh (1644 – 1911).
Giống như triều Nguyên trước đây, nhà Thanh thi hành chính sách áp bức dân tộc.
Giai cấp thống trị Thanh buộc người Trung Quốc phải theo phong tục của người Mãn từ y phục đến đầu tóc.
Mặc dù các hoàng đế Thanh dùng các biện pháp vỗ về, mua chuộc giai cấp địa chủ người Hán, giảm nhẹ tô thuế cho nông dân, khuyến khích khẩn hoang, nhưng không thể làm cho mâu thuẫn dân tộc dịu đi.
Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở khắp nơi đã làm cho chính quyền nhà Thanh suy yếu dần.
Lợi dụng cơ hội trên, tư bản phương Tây đua nhau nhòm ngó, xâm lược Trung Quốc.
Chính sách “bế quan toả cảng” của nhà Thanh không những khồng hạn chế được việc thươns nhân châu Âu đưa nhiều hàng lậu vào Trung Quốc mà còn gây nên cuộc xung đột kịch liệt, dẫn đến sự suy sụp của chế độ phong kiến Trung Quốc.
3.中国の明と清の王朝
13世紀初頭、モンゴルの草原で、ジンギス・カン(チンギス・ハーン)が王として率いる封建的な軍事独裁政権が形成されました。
1271年、モンゴルの王クビライ(クビライ・カーン)が王位に就き、中国に元王朝を樹立しました(1271-1368)。
元王朝の統治下で、中国人は絶えず立ち上がって戦った。
1368年、農民の反乱は元王朝を打倒しました。
朱元璋は南京で皇帝になり、明王朝(1368-1644)を創設しました。
明王朝は、経済を回復し発展させるために多くの措置を講じました。
16世紀の初めまでに、資本主義の生産的関係の芽が中国に現れました。
いくつかの職業には、比較的大きな工芸品の組合ギルドがあります。
江西省には、3,000窯のある景徳鎮市 (Cảnh Đức Trấn)のような大きな陶器製造センターがあります。
数万の銀の両、数十の織機、数十の労働者を抱える繊維工場の所有者がいます。
これらの労働者は賃金のために雇われた労働者として働きます。
その時、大きな商人も現れました。
彼らはたくさんの資本と原材料を持っており、それらは完成品を集めるために各家庭に作業を与えます。
商人は、国内外で商品を売買します。
彼らの活動は、春にはサトウキビ農家にお金を払い、冬には砂糖で戻ってくるように、農業部門に浸透しています。
明代の都市は大きく成長し、非常に繁栄していました。
北京と南京は政治の中心地であるだけでなく、主要な経済の中心地でもあります。
朱元璋は、混乱と反逆の状態を終わらせるために全体主義の君主制を構築することに非常に興味を持っていました。
1380年に、彼は首相、大尉の地位を廃止し、省庁を担当する大臣に取って代ることを決定しました。
明王朝は六部吏部(官吏の任免)、戸部(戸口・租税)、礼部(典儀・科挙・外務)、兵部(武官の任免・軍政)、刑部(司法)、工部(林野・建設)を設立し、官僚機構を完成させました。
郡県の当局者は、裁判所の省庁の指揮下にあった。
皇帝は軍隊を直接握って、すべての力を彼の手に集中させました。
皇帝はまた、称号を強化し、宮廷を支援する忠実な王女である王室の子孫に土地を与えました。
明王朝の終わりに、貴族と地主の手に土地の占領と集中が起こりました。
王子たちは多くの「王冠」、広大な土地を持っています。
地元の家主は数千haの畑を持っています。
ところが、農民は畑がなく、税金の徴収と徴収が重いために貧しいです。
多くの人は、畑を取売り、妻や子供を売ったり、故郷を離れて外に出て目的を達成したりしなければなりません。
農民の反乱が再び起こった。
李自成の蜂起は明王朝を崩壊させました。
その中で、中国北東部の満州族が李自成を破り、清王朝(1644-1911)を創設しました。
以前の明王朝のように、清王朝は国の抑圧の政策を実施しました。
清の支配階級は、中国人に衣服から髪の毛まで満州の習慣に従うことを強制しました。
清の皇帝は、漢の地主を慰め、賄賂を贈り、農民の土地税を引き下げ、開拓を奨励する方法を使用しましたが、国家紛争を緩和することはできませんでした。
農民の反乱は至る所で起こり、清政府を弱体化させました。
上記の機会を利用して、西側の資本家は中国を監視し、侵略するために競争した。
清王朝の「隔離」政策は、ヨーロッパ人による密輸品の中国への密輸を制限できなかっただけでなく、激しい紛争を引き起こし、中国の封建制度の崩壊につながった。

コメント