フランス植民地主義の最初の搾取におけるベトナム社会 2.社会の変化について

  1. Nêu những chuyển biến về xã hội

Những biến đổi trong cơ cấu kinh tế Việt Nam dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp đã kéo theo sự biến đổi về mặt xã hội.

Một bộ phận nhỏ trong giai cấp địa chủ phong kiến trở nên rất giàu có. Dựa vào thực dân Pháp, họ ra sức chiếm đoạt ruộng đất của làng xã, của nông dân.
Tuy vậy, một số địa chủ vừa và nhỏ bị đế quốc chèn ép, ít nhiều có tinh thần chống Pháp.

Nông dân Việt Nam vốn đã khốn khổ bởi nạn thuế khóa, địa tô, phu phen, tạp dịch…lại càng khổ thêm vì nạn cướp đất lập đồn điền, dựng nhà máy của thực dân Pháp.
Bình quân ruộng đất vốn đã thấp nay càng thấp hơn. Ở Bắc Kì, có xã tới 80% số hộ không có ruộng.
Mất đất, người nông dân phải tìm đường ra các thành phố, đến các công trường, hầm mỏ và đồn điền, nhưng chỉ có một số ít kiếm được việc làm.

Nông dân Việt Nam là một lực lượng to lớn trong phong trào chống Pháp, nhưng do thiếu sự lãnh đạo đúng đắn nên họ chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của mình.

Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa những giai cấp cũ trong xã hội mà còn làm xuất hiện những lực lượng xã hội mới.

Trước hết, nền công nghiệp thuộc địa mới hình thành là cơ sở ra đời đội ngũ công nhân Việt Nam.
Họ làm việc trong các hầm mỏ, đồn điền, các xí nghiệp công nghiệp, công trường, các ngành giao thông….

Nhà máy xi măng Hải Phòng đã có 1 800 công nhân, các nhà máy xay xát gạo ở Sài Gòn cũng có tới 3 000 công nhân.
Riêng ngành than, năm 1904 mới có 4 000 công nhân, đến năm 1914 đã có 15 000 công nhân; xưởng đóng tàu Ba Son (Sài Gòn),
nhà máy xe lửa Trường Thi (Vinh) cũng có đến 1 000 công nhân có tay nghề.

Lực lượng công nhân Việt Nam đầu thế kỉ XX còn non trẻ. Mục tiêu đấu tranh chủ yếu của họ là vì quyền lợi kinh tế (đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện đời sống và điều kiện việc làm ).
Ngoài ra, họ còn hưởng ứng các phong trào chống Pháp do các tầng lớp khác lãnh đạo.

Trong quá trình khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cần có những người làm trung gian, đại lí tiêu thụ hoặc thu mua hàng hóa, cung ứng nguyên vật liệu. Nhờ buôn bán họ trở nên giàu có.
Ngoài ra một số sĩ phu yêu nước, chịu ảnh hưởng của tư tưởng tư sản Trung Quốc, Nhật Bản, đã đứng ra lập các hiệu buôn, cơ sở sản xuất.
Đó chính là những lớp người đầu tiên của tư sản Việt Nam.

Cũng trong thời kì này xuất hiện tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Thành phần của họ khá phức tạp, gồm những tiểu thương, tiểu chủ sản xuất và buôn bán hàng thủ công.
Số viên chức làm việc trong các công sở hoặc cơ sở tư nhân như nhà báo, nhà giáo, học sinh, sinh viên….cũng là một lực lượng quan trọng thuộc tầng lớp này.

Như vậy, cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm nảy sinh những lực lượng xã hội mới.
Sự biến đổi này đã tạo ra những điều kiện bên trong cho vận động giải phóng dân tộc theo xu hướng mới ở đầu thế kỉ XX.

2.社会の変化について

フランスの最初の植民地開発の影響下でのベトナムの経済構造は、社会的変化をもたらしました。
封建的な地主階級のごく一部が非常に裕福になりました。フランスの植民地主義に基づいて、彼らは村と農民の土地を乗っ取ろうとしました。
しかし、中小の家主の中にはフランスに強制摂取されることがあるので、少なからず反フランスの精神がありました。

ベトナムの農民は、課税、土地賃貸料、労役、強制労働など悲惨です。
農園をフランス植民地主義者の工場を建設する土地強盗のためにさらに苦しみます。
平坦で使える土地は少なくなります。 Bac Kyでは、最大80%の世帯に平地がありません。
農民は土地を失い、都市、建設現場、鉱山、農園に行く必要がありますが、仕事で稼げるのはごく少数です。

フランスの植民地主義者の植民地的搾取は、社会の古い階級を分割しただけでなく、新しい社会的勢力のようにも見えました。

まず、新しく形成された植民地産業は、ベトナム人労働者の基礎形成です。
彼らは鉱山、農園、工業、建設現場、輸送産業で働いています。

Hai Phongのセメント工場には1800人の労働者がおり、サイゴンの精米所には3000人の労働者がいます。
特に石炭産業では、1904年には4,000人しかいませんでしたが、1914年には15,000人の労働者がいました。
Ba Son造船所(Saigon)、Truong Thi駅(Vinh)にも1000人の熟練労働者がいます。

20世紀初頭のベトナムの労働力はまだ若く。彼らの主な闘争目標は、経済的利益(賃金の引き上げ、労働時間の短縮、生活の改善、雇用条件の向上)です。
さらに、他の階層の人々が反フランスの動きました。

植民地の開発中、フランスの植民地主義者は、仲介者、消費者代理店、または商品の購入、材料の供給を必要とします。取引によって彼らは金持ちになりました。
さらに、中国と日本の中産階級のイデオロギーに影響された愛国的な人の中には、貿易会社と生産施設を設立した人もいます。
これらは、ベトナム最初の中産階級でした。
また、この期間中に郊外の中間層が登場しました。その構成は、中小企業、小規模生産者、職人など、非常に複雑です。
民間事務所やジャーナリスト、教師、学生、学生などの機関で働く職員の数も、この階層の重要な力です。

したがって、フランス植民地主義の植民地の搾取は、新しい社会的勢力を生み出しました。
この変革は、20世紀初頭の新しいトレンドにおける国民解放運動の内部条件を作り出しました。

コメント