3. 1873-1874年の北部ベトナムにおける抵抗運動

3. Phong trào kháng chiến ở Bắc Kì trong những năm 1873-1874
Hành động xâm lược của quân Pháp khiến cho nhân dân ta vô cùng căm phẫn.
Ngay khi Gác-ni-ê đến Hà Nội, quân dân ta đã bất hợp tác với Pháp.
Các giếng nước ăn bị bỏ thuốc độ.
Kho thuốc súng ở bờ sông của Pháp nhiều lần bị đốt cháy.
Khi nổ súng đánh thành Hà Nội,
khoảng 100 binh sĩ triều đình dưới sự chỉ huy của một viên Chưởng cơ đã chiến đấu và hi sinh tới người cuối cùng tại cửa Ô Thành Hà (sau được đổi tên là Ô Quan Chưởng)Trong thành,
Tổng đốc Nguyễn Tri Phương đã đốc thúc quân sĩ chiến đấu dũng cảm. Khi bị trọng thương, bị giặc bắt.
ông đã khước từ sự chữa chạy của Pháp, nhịn ăn cho đến chết.
Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng hi sinh trong chiến đấu.
Thành Hà Nội bị giặc chiếm, quân triều đình tan rã nhanh chóng, nhưng nhân dân Hà Nội vẫn tiếp tục chiến đấu.
Các sĩ phu, văn thân yêu nước đã lập Nghĩa hội, bí mật tổ chức chống Pháp.
Tại các tỉnh Hưng Yên, Phủ Lí, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định…, quân Pháp cũng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của quân ta.
Trận đánh gây được tiếng vang lớn nhất lúc bấy giờ là trận phục kích của quân ta tại Cầu Giấy ngày 21-12-1873.
Thừa lúc Gác-ni-ê đem quân xuống đánh Nam Định, việc canh phòng Hà Nội sơ hở,
quân ta do Hoàng Tá Viêm chỉ huy (có sự phối hợp với đội quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc) từ Sơn Tây kéo về Hà Nội, hình thành trận tuyến bao vây quân địch.
Nghe tin đó, Gác-ni-ê đem quân đuổi theo. Rơi vào ổ phục kích của quân ta tại khu vực Cầu Giấy, toán quân Pháp, trong đó có cả Gác-ni-ê đã bị tiêu diệt.
Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất khiến cho nhân dân ta vô cùng phấn khởi; ngược lại, làm cho thực dân Pháp hoang mang, lo sợ và tìm cách thương lượng.
Triều đình Huế lại kí kết Hiệp ước năm 1874 (Hiệp ước Giáp Tuất), theo đó quân Pháp rút khỏi Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Kì,
nhưng vẫn có điều kiện tiếp tục xây dựng cơ sở để thực hiện các bước xâm lược về sau.
Hiệp ước 1874 gây bất bình lớn trong nhân dân và sĩ phu yêu nước.
Phong trào đấu tranh phản đối Hiệp ước dâng cao trong cả nước, đáng chú ý nhất là cuộc nổi dậy ở Nghệ An, Hà Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Huy Điển lãnh đạo.
3. 1873-1874年の北部ベトナムにおける抵抗運動
フランス軍の侵攻により、国民は非常に憤りした。
彼がハノイに到着するとすぐに、ベトナム軍と人民はフランスと協力しませんでした。
食糧井戸は放棄されました。フランスの川岸の火薬庫は何度も焼かれました。
ハノイでの銃撃の際、指揮官の指揮下で約100人の朝廷軍兵士が戦い、O thanh haの門で最後の犠牲の人として死んだ(後にらO quan Chuongと改名された)。
Nguyen Tri Phuong知事は、兵士たちに勇敢に戦うよう促した。重傷を負ったとき、敵に捕らえられました。
彼はフランスの治療を拒否し、断食しました。彼の息子のNguyen Lamも戦いで亡くなりました。
ハノイは敵に征服され、朝廷軍はすぐに崩壊しましたが、ハノイの人々は戦い続けました。
愛国心が強い将校と官史は墓地を設置し、反フランス組織を密かに組織しました。
Phu Li、Hai Duong、Ninh Binh、Nam Dinhなどの地方では、フランス軍も民兵の激しい抵抗に直面しました。
当時の最も有名な戦いは、1873年12月21日のCau giayでの軍隊の待ち伏せでした。
Gac-ni-eが軍隊を連れてハノイの守備基地であるNam Dinhで戦ったとき、私たちの軍隊はSon TayからHoa Ta Viem(Luu Vinh Phucの黒旗軍と共同)によって率いられました。
ハノイで敵を囲む戦線を形成します。
その情報を聞いて、Gac-ni-eは軍隊を追跡しました。Gac-ni-eでさえも破壊され、Cau giay地域の軍隊の伏兵攻撃に陥りました。
Cau Giayの最初の勝利により、私たちの人々は非常に興奮しました。それどころか、フランスの入植者は混乱し、恐れ、交渉しようとしました。
Hue朝廷は1874年に条約(Giap Tuat条約)に署名しました。これにより、フランス人はハノイと北部デルタ州から撤退しましたが、侵略を実行するために基地を建設し続ける条件がありました。
1874年の条約には22の条件が含まれていました。
この条約により、Nguyen王朝は、6つの南部州をフランス領として正式に認め、ベトナムへ行き来する権利、貿易、管理、調査する権利を認めました。
1874年の条約は、愛国心の強い人々と官史の間で大きな不満を引き起こしました。
条約に抗議する動きは、全国で急増しました。
最も顕著なのは、Tran Tan、Dang Nhu Mai、Nguyen Huy Dienが率いるNghe AnとHa Tinhの蜂起です。

コメント